Tìm hiểu về Phật Di Lặc, Tại sao phải lấy ngày mùng một Tết làm ngày vía Phật Di Lặc? Và ý nghĩa

Tìm hiểu về Phật Di Lặc, Vì sao phải lấy ngày mùng một Tết làm ngày vía Phật Di Lặc? Và ý nghĩa

Hình Ảnh về: Tìm hiểu về Phật Di Lặc, Vì sao phải lấy ngày mùng một Tết làm ngày vía Phật Di Lặc? Và ý nghĩa

Video về: Tìm hiểu về Phật Di Lặc, Vì sao phải lấy ngày mùng một Tết làm ngày vía Phật Di Lặc? Và ý nghĩa

Wiki về Tìm hiểu về Phật Di Lặc, Vì sao phải lấy ngày mùng một Tết làm ngày vía Phật Di Lặc? Và ý nghĩa

Tìm hiểu về Phật Di Lặc, Vì sao phải lấy ngày mùng một Tết làm ngày vía Phật Di Lặc? Và ý nghĩa –

Theo truyền thống từ lâu đời của Tổ Tiên, từ nơi đô thành thị tứ, cho tới nông thôn xóm làng, vào ngày mùng một Tết Nguyên Đán hằng năm, chúng ta cùng gia đình, thường hay đi chùa, lễ Phật tụng kinh, chí tâm nguyện cầu, chư Phật mười phương, thùy từ gia hộ, nhà cửa bình yên, gia đạo hạnh phúc, từ đầu năm chí những cuối năm. Đồng thời chúng ta cũng gửi tới nhau những lời cầu chúc một năm tốt đẹp, vạn sự như ý, an lạc kiết tường. Trong nhà Phật, ngày mùng một Tết Nguyên Đán đầu năm cũng là ngày vía đức Bồ-tát Di-lặc.

Theo truyền thống từ lâu đời của Tổ Tiên, từ nơi đô thành thị tứ, cho tới nông thôn xóm làng, vào ngày mùng một Tết Nguyên Đán hằng năm, chúng ta cùng gia đình, thường hay đi chùa, lễ Phật tụng kinh, chí tâm nguyện cầu, chư Phật mười phương, thùy từ gia hộ, nhà cửa bình yên, gia đạo hạnh phúc, từ đầu năm chí những cuối năm. Đồng thời chúng ta cũng gửi tới nhau những lời cầu chúc một năm tốt đẹp, vạn sự như ý, an lạc kiết tường. Trong nhà Phật, ngày mùng một Tết Nguyên Đán đầu năm cũng là ngày vía đức Bồ-tát Di-lặc.

1. Tìm hiểu về Phật Di Lặc

Bồ tát Di Lặc theo sử ghi, thì Ngài là một nhân vật lịch sử có thật ở Ấn Ðộ thời Phật. Di Lặc là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Từ Thị. Thị tức là họ của Ngài, còn Từ là chỉ cho từ bi. Về tên họ của Ngài có nhiều thuyết nói ko giống nhau. Ngài cũng có tên là A Dật Ða (tiếng Phạn) Trung Hoa dịch là Vô Nan Thắng. Theo thói quen, chúng ta thường gọi Ngài là Phật Di Lặc, kỳ thật, thì Ngài chỉ là một vị Bồ tát nhất sanh bổ xứ, hiện ở nội viện thiên cung của cõi trời Ðâu Suất. Theo lời huyền ký của đức Phật Thích Ca, thì sau này, Ngài sẽ hạ sanh xuống cõi Ta bà tu hành thành Phật dưới cội cây Long Hoa. Bấy giờ, người ta mới tôn xưng Ngài là Phật Di Lặc.

Ngày nay, trong các chùa thuộc hệ phái Phật giáo Bắc Tông đều tôn thờ hình tượng Ngài, với tư thế Ngài ngồi phạch ngực, mập mạp, bụng to và mồm cười toe toét. Có hình tượng trên thân hình Ngài còn có 6 đứa trẻ nhỏ bu xung quanh, đứa thì móc lỗ tai, móc mắt, móc mồm… Người nào trông thấy cũng tưởng như là một trò đùa, nhưng đó là tượng trưng một ý nghĩa rất thâm sâu. Ý nói rằng, dù cho 6 giặc (6 trần: Sắc, thinh, hương, vị, xúc pháp) có quậy phá tới đâu, cũng ko làm cho tâm Ngài phải bị dao động, Vì sáu căn (Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) của Ngài đã hoàn toàn thanh tịnh.

Hình tượng này, người ta y cứ vào hóa thân của Ngài là một vị Bố Ðại Hòa Thượng (HT mang túi vải lớn) ở vào thời Ngũ Ðại khoảng thế kỷ thứ 10 bên Trung Hoa, nhưng người ta tạo tạc, đắp tượng tôn thờ. Thế nhưng, vì sao biết đó là hóa thân của Bồ tát Di Lặc? Vì trước lúc viên tịch, Ngài có để lại bài kệ:

Di Lặc chơn Di Lặc

Phân thân thiên bách ức

Thời thời thị thời nhơn

Thời nhơn tự bất thức

Tức là:

Di Lặc thật Di Lặc

Phân thân trong muôn ức

Thường thường chỉ dạy người đời

Người đời tự ko biết.

Chính nhờ bài kệ này nhưng người ta mới biết Bố Ðại Hòa Thượng là hóa thân của đức Di Lặc.

2. Vì sao phải lấy ngày mùng một Tết làm ngày vía?

Thường người ta hay lấy ngày sanh hoặc ngày tịch để làm ngày kỷ niệm gọi là ngày vía. Nhưng ở đây thì ko nằm trong thông lệ đó. Nhưng mà đây là ý nghĩa thâm sâu trong nhà Thiền, do chư Tổ khéo bày chọn ngày nầy làm ngày vía của Ngài. Theo tục lệ của người Á Ðông nói chung, người Việt Nam nói riêng, phần đông người ta rất chú trọng tới việc kiêng cử ngày đầu năm. Vì ngày đầu năm, người ta cho rằng đó là ngày quyết định cho việc tốt xấu, hên xuôi, trọn một năm. Do đó, nên người Phật tử cúng rước vía Bồ Tát Di Lặc với thâm ý là để được trọn năm an vui hạnh phúc. Vì Bồ tát Di Lặc chuyên tu hạnh hỷ xả. Do đó, nên người ta tạc tạo tượng Ngài lúc nào cũng thấy Ngài ngồi an nhiên vui cười hỷ hạ.

Ðức Di Lặc ngồi trơ bụng đá

Bao bụi trần bám đã rồi rơi

Mặc cho thế sự đầy vơi

Dững dưng như một nụ cười an nhiên.

Niềm ước vọng cuối cùng của người tu là mong cầu thành Phật. Gần hơn là người ta mong được an vui hạnh phúc. Muốn thế, tất nhiên người Phật tử cần phải noi theo tấm gương hỷ xả của ngài. Từ, bi, hỷ xả, đó là tứ vô lượng tâm tức bốn tâm hành ko lường của một vị Bồ tát. Nhưng mà Bồ tát Di Lặc là biểu tượng đầy đủ cụ thể cho bốn tâm hành nầy. Lúc nào trên gương mặt của Ngài cũng hỷ xả an vui hạnh phúc.

Có xả bỏ những ưu tư nội kết trong tâm, thì con người mới thật sự có an vui hạnh phúc. Ðó mới thật là thứ hạnh phúc chơn thật. Cho nên, lúc tưởng vọng lễ bái Ngài đầu năm, người Phật tử ước vọng tương lai đời mình sẽ được thành Phật như Ngài. Ðồng thời, cũng quyết tâm thật hành theo hạnh hỷ xả của Ngài. Có thế, thì trọn năm người Phật tử mới được nhiều lợi lạc vui tươi hạnh phúc. Bằng trái lại, thì sẽ chuốc lấy nhiều khổ đau. Ðó là ý nghĩa và cũng là lý do chủ yếu nhưng người Phật tử tưởng vọng lễ vía Ngài đầu năm vậy.

3. Ý nghĩa hình tượng của Ngài

Trước hết, chúng ta được biết, hình ảnh của đức Di-lặc được thờ trong các chùa, trông rất khỏe mạnh, mập mạp, và gương mặt xoành xoạch tươi cười một cách hoan hỷ. Đặc thù, chúng ta thấy có sáu đứa nhỏ bám trên thân của Ngài. Đứa thì móc mắt, đứa thì móc mũi, đứa thì móc mồm, đứa thì chọc lỗ tai, đứa thì moi rún, nhưng Ngài vẫn tươi cười, như ko có chuyện gì làm cho Ngài phải phiền toái bực dọc. Hình ảnh của sáu đứa nhỏ chính là bài học tích cực, giúp chúng ta xây dựng được một cuộc sống an lạc và hạnh phúc cho chính chúng ta và cho những người xung quanh, ngay trong hiện đời, ngay trong cuộc sống đầy phiền não và khổ đau này.

Có người còn gọi bức tượng đó là “Phật Hoan Hỷ”. Đầu năm tới chùa cúng vái Ngài để được “hoan hỷ” suốt năm. Nhưng cũng có nhiều người hiểu lầm cho đó là vị thần có nhiều con cái, để những người nào muốn có con, hãy tới lễ lạy Ngài nhưng cầu xin! Cũng có nhiều người nhầm lẫn với bức tượng khác của một vị thần to lớn, mồm cười toe toét, hai tay nâng một thỏi vàng, đó chính là tượng thần tài, không phù hợp gì tới Phật giáo.

Xem thêm bài viết hay:  Top 7+ cây cầu check-in đẹp nhất ở Sài Gòn

Sáu đứa nhỏ bám vào thân của Ngài đó tượng trưng cho “lục tặc”, tức là sáu tên giặc chuyên gây phiền não, gây rối rắm, gây bực dọc cho chúng ta trong cuộc sống thường nhật. Sáu tên giặc đó là những người nào? Làm sao chúng có thể gây rối rắm cho cuộc đời của chúng ta được? Chúng ta cần nhận diện rõ ràng sáu tên giặc đó, mới có thể điều phục được chúng, để xây dựng cuộc sống an lạc và hạnh phúc, một cách tích cực hơn.

Chúng ta có lục căn, tức là sáu giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Với hai con mắt, chúng ta trông thấy những hình ảnh nào dễ thương, hạp nhãn, thì sanh tâm đắm nhiễm, nhớ nhung, tham luyến, muốn cướp đoạt làm của riêng mình; còn nếu trông thấy những hình ảnh khó ưa, xấu xí, thấy phát ghét, thì sanh tâm bực dọc, tức giận, bất an. Với hai cái tai, chúng ta nghe những tiếng êm dịu, tưng bốc, thì sanh tâm đắm nhiễm, ưa thích; còn nếu nghe những lời chỉ trích khó nghe, chạm tới tự ái, chạm tới bản ngã to lớn của mình, thì ko kham nhẫn, nên sanh tâm sân hận, oán ghét, bất an. Với cái mũi, chúng ta chỉ thích những mùi hương thơm ngát, thư thái và ghét những mùi khó chịu, những mùi lạ ko vừa ý, nên sanh tâm bực dọc, bất an. Với cái lưỡi, chúng ta chỉ thích ăn ngon khoái khẩu, hạp vị, nhưng ko nghĩ tới sự khổ đau của các chúng sanh bị giết thịt; còn nếu ko được ngon mồm, thì sanh tâm bực bội, gắt gỏng, bất an. Với cái thân tứ đại giả tạm này, nhưng vì mê lầm, chúng ta thường chấp là chính mình, chúng ta chỉ thích mặc đẹp và những xúc chạm vừa ý; còn nếu ko được như ý, thì sanh tâm quạu quọ, quạu quọ, tức tối, bất an. Quan trọng hơn cả với cái tâm ý lăng xăng lộn xộn, ko một phút giây ngừng nghỉ, chúng ta xoành xoạch suy tư, nghĩ tưởng lung tung, tính toán những điều gì có lợi cho bản thân mình, cho gia đình mình, cho tổ chức mình, xoành xoạch khen mình chê người.

Tức là trong cuộc sống hằng ngày, lúc “sáu căn” của chúng ta xúc tiếp với “sáu trần”, nhưng tâm niệm khởi lên thế này thế nọ, trong kinh sách gọi là “sáu thức”, tức là phiền não bất an dấy lên vậy. Trong trường hợp tương tự, lục căn của chúng ta chính là lục tặc, tức là sáu tên giặc, đã, đang và sẽ dẫn dắt chúng ta vào sanh tử luân hồi, nhiều đời nhiều kiếp. Nói cách khác, sáu căn của chúng ta chính là cội gốc của tử sinh luân hồi. Người ta thường nói: “tam bành” (tham, sân, si) do “lục tặc” (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) gây ra, chính là nghĩa đó vậy.

Tuy nhiên, trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật có dạy: “Sáu căn chính là cội gốc của sanh tử luân hồi và sáu căn cũng chính là cội gốc của giải thoát niết bàn”.

Vì sao vậy? Bởi vì, nếu lục căn của chúng ta, tức là sáu giác quan, gồm có: nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân và ý, lúc xúc tiếp với lục trần, tức là sáu trần cảnh bên ngoài gồm có: sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp, nhưng ko đắm nhiễm, ko dính mắc, ko sanh lục thức, thì chúng ta đâu có bị phiền não, trong lòng đâu có nổi “tam bành”. Tức là chúng ta ko tham, ko sân, ko si, dù vẫn thường xuyên xúc tiếp với mọi người mọi cảnh trong cuộc đời. Giữ gìn được tương tự tức là chúng ta được giải thoát khỏi phiền não khổ đau, sống trong cảnh giới niết bàn an lạc vậy.

Mắt trông thấy hình sắc thì biết rõ ràng người nào là người nào, món này là món này, nhưng ko khởi niệm thương hay ghét, ưa hay ko ưa. Tai nghe thấy tiếng thì biết rõ ràng là tán thán hay phê phán, nhưng ko khởi niệm khoái chí hay bực bội. Mũi ngửi thấy mùi thì biết rõ ràng là mùi hương gì, nhưng ko khởi niệm thích hay ko thích. Lưỡi nếm vị thì biết rõ ràng là vị gì, nhưng ko khởi niệm khen ngon hay chê dở. Thân xúc chạm thì biết rõ ràng là tốt hay xấu, nhưng ko khởi niệm thư thái hay khó chịu. Tâm ý suy nghĩ thì biết rõ ràng là đúng hay sai, phải hay quấy, nhưng ko khởi niệm kỳ thị, đố kỵ, so sánh, hơn thua, tranh chấp. Do đó, chúng ta đâu có bị kéo lôi, ko có bị cột trói vào chuyện thương thương ghét ghét, chuyện đấu tranh tranh đấu, chuyện lặp đi lặp lại, chuyện nói tới nói lui, chuyện nói xuôi nói ngược, tức là chúng ta đã thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi khổ đau đó vậy.

Tỉ dụ như mắt trông thấy lượng vàng, trông thấy kim cương hột xoàn, nhưng chúng ta ko nổi lòng tham lam, thích thú, muốn sở hữu nó, thì đâu phải khổ công nặng nhọc, đi làm đầu tắt mặt tối, để sắm sửa nó. Còn nếu bản thân, vốn đã lười biếng, ko chịu làm việc, nhưng lại tham lam, muốn có lượng vàng, muốn có hột xoàn, thì còn khổ hơn, gấp muôn bội phần! Ko phải là chúng ta ko cần tiền để sinh sống, nhưng cổ nhơn có dạy:

Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc.Tri nhàn tiện nhàn đãi nhàn hà thời nhàn.

Tức là người nào biết đủ thì lúc nào cũng thấy đủ và người nào biết nhàn thì lúc nào cũng thấy nhàn. Chỉ cần “biết” tương tự thì cuộc đời đã đủ quá rồi, đã nhàn quá rồi. Bằng như trái lại, bao nhiêu mới gọi là đủ, chừng nào mới gọi là nhàn? Con người bận toan lo chuyện tranh danh đoạt lợi suốt cả cuộc đời, cho nên ko bao giờ thấy đủ, chưa bao giờ thấy nhàn, chẳng kịp tỉnh thức thì đầu đã bạc trắng, thân đã mòn mỏi, ko còn thời giờ để tính liệu sắm sửa hành trang, thì đã phải đi du lịch toàn cầu khác rồi!

Trong Kinh Di Giáo, Đức Phật có dạy:

Tri túc chi nhơn tuy ngọa địa thượng du vi an lạc.Bất tri túc giả thân xử thiên đường diệc bất xứng ý.

Tức là người biết thế nào là đủ, tuy nằm trên đất cũng lấy làm an lạc, vui sướng. Người ko biết thế nào là đủ, dù thân có ở thiên đường, tâm cũng vẫn ko vừa ý! Chỉ cần “biết” tương tự thì cuộc đời an lạc và hạnh phúc hiện tiền! Bằng như trái lại, dù có được cầu chúc tiêu diêu nơi miền cực lạc hay siêu thoát về cõi thiên đường trên tin báo, cũng khó nhưng được lắm thay!

Tỉ dụ như tai nghe thấy tiếng khó nghe, nhưng tâm ko chấp những lời vô nghĩa, thì chúng ta đâu có nổi lòng sân, và đâu có bị lôi vào vòng sanh tử luân hồi khổ đau. Trong kinh điển, Đức Phật có dạy chúng ta là “y nghĩa bất y ngữ”, tức là chỉ nghe theo những lời nói có nghĩa, nhưng ko chấp những lời nói suông vô nghĩa. Nếu có người mắng chúng ta là đồ ngu, nhưng chúng ta nổi sân, cãi lại cho ra lẽ, thì quả là chúng ta ngu thật rồi, còn gì nói nữa. Nếu có người miệt thị chúng ta mất uy tín quá, nhưng chúng ta khiêm nhượng chẳng thấy mình có uy tín gì để nhưng mất, thì bình yên quá! Những lời nói vô nghĩa tương tự lúc tới nhĩ căn của chúng ta, tức là hai cái lỗ tai, cũng giống như gió thoảng nhưng thôi! Được tương tự, chúng ta sẽ sống cuộc đời an lạc và hạnh phúc, ko nghi.

Bởi vậy, có một bài kệ như sau:

Xem thêm bài viết hay:  Cách may quần cho bé với dạng quần chíp xinh xinh 2022

Mắt trông thấy sắc rồi thôi, (ko dính)Tai nghe thấy tiếng, nghe rồi thì ko. (ko mắc)Trơ trơ lẳng lặng cõi lòng, (vô niệm)Nhẹ nhõm ta bước khỏi vòng trầm luân. (giải thoát)Trái lại, cũng có bài kệ như sau:Mắt thấy sắc, thấy rồi thì dính, (dính)Tai nghe tiếng, nghe rồi thì mắc. (mắc)Tam bành lục tặc trong lòng, (loạn tâm)Nặng nề ta lọt vào vòng tử sanh. (phiền não) 

Có người tới hỏi một vị thiền sư: “Làm sao để được giải thoát?”.Vị thiền sư đáp: “Lục căn xúc tiếp lục trần, ko sanh lục thức là giải thoát”.Tức là thường nhật, nếu chúng ta sống trong cõi đời này, sáu giác quan của chúng ta xúc tiếp với sáu nhân vật ở trần đời, nhưng ko sanh tâm dính mắc, ko sanh tâm loạn động vì tham sân si thì chúng ta sẽ được tự tại, giải thoát ngay hiện đời. Mắt trông thấy sắc, tai nghe thấy tiếng, mũi ngửi biết mùi, lưỡi nếm biết vị, nhưng nhưng đừng khởi niệm thương hay ghét, thích hay ko thích, nếu như có khởi niệm rồi thì đừng theo. Tương tự chúng ta đâu có gì gọi là phiền não, sân hận hay bực dọc nữa.

Từ xưa tới giờ, mỗi lúc tâm khởi niệm, chúng ta liền theo tới cùng, theo từ chuyện đông sang chuyện tây, từ chuyện xưa tới chuyện nay, từ chuyện quốc gia đại sự tới chuyện hang cùng ngõ hẹp, từ chuyện xứ người tới chuyện xứ mình, từ chuyện người lớn tới chuyện trẻ em, từ đủ mọi thứ chuyện trên trần đời, để rồi than nhức đầu vì nhiều chuyện quá, than trời trách đất vì tội nghiệp khổ não quá!

Còn như sáu đứa nhỏ xoành xoạch chọc phá đức Di-lặc, nhưng Ngài vẫn tươi cười hoan hỷ như ko có chuyện gì xảy ra. Tức là “lục căn” của Ngài vẫn thường xúc tiếp với “lục trần”, nhưng tâm của Ngài ko sanh ra “lục thức”, thì Ngài sống rất an nhiên, tự tại. Đó là cảnh giới của những người “vô tâm”, tức là những người ko có tâm niệm lăng xăng lộn xộn, cho nên ko có phiền não và khổ đau. Đó là cảnh giới niết bàn ở ngay trong tâm trí của chúng ta hiện đời, chứ ko phải đợi sau lúc chết mới tiêu diêu nơi miền cực lạc, hay lên trên thiên đường đâu đâu ko tưởng.

Đạo Phật chủ yếu chỉ bày phương pháp rèn luyện tâm, chuyển hóa tâm, từ vô minh trở thành tỉnh ngộ, từ tà vạy trở thành chân chính, từ phiền não và khổ đau trở thành an lạc và hạnh phúc. Đạo Phật được vận dụng ngay trong thực tiễn của cuộc đời, trong mọi hoàn cảnh, giúp những người thiện tâm được sống bình yên ngay tại thế gian này, chứ đạo Phật ko phải chỉ lo cầu an cho người sống, cầu siêu cho người quá cố nhưng thôi. Hiểu được tương tự mới ko phí phạm cả cuộc đời quí báu này!

Thiền sư Bá Trượng Hoài Hải có dạy: “Tâm trạng ko dính nhau là giải thoát”. Tức là chúng ta vẫn thấy, vẫn nghe, vẫn hiểu, vẫn biết tất cả các cảnh trên trần đời, trong kinh điển gọi là “kiến văn giác tri”, nếu tâm của chúng ta ko dính mắc thì ko phiền não. Ko phiền não tức là giải thoát. Thật là hết sức đơn giản. Phép tắc tuy cừ khôi vi diệu, nhưng hết sức thực tiễn. Bất kỳ người nào cũng có thể làm được, ko cần phải thờ lạy, cúng kiến, ko phân biệt tôn giáo, sắc tộc, tiếng nói, nghề nghiệp, xuất xứ, học vấn, nam nữ, già trẻ, nhỏ lớn, giàu nghèo, sang hèn.

Tuy nhiên, nói tương tự thì hiểu tương tự, chứ còn thực hiện được cái chỗ “ko dính”, cái chỗ “ko mắc”, cái chữ “vô tâm”, cái chữ “vô niệm”, thì chúng ta thiết yếu phương pháp tu để ứng dụng, để thực hành. Làm sao chúng ta có thể sống vui tươi, hạnh phúc suốt năm và cả đời như đức Di-lặc? Điều trước tiên, chúng ta hãy dũng cảm nhận thấy rõ cuộc sống của chúng ta vui ít khổ nhiều, đừng tự dối mình gạt người, nhưng ko bi quan yếm thế và cũng đừng sống trong phiền não, khổ đau bi thương như trước đây nữa. Muốn được tương tự, chúng ta phải đảnh lễ Ngài với tất cả lòng thành kính và hướng tâm hồn học theo cái hạnh nguyện của Ngài, đặng tâm trí được an vui phơi phới, dù đang ở trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng vậy. Đức Di-lặc tu theo pháp môn nào nhưng được tự tại tương tự? Đó chính nhờ Ngài tu bốn hạnh “từ, bi, hỷ, xả”, trong kinh sách gọi là “tứ vô lượng tâm”, tức là bốn tâm địa rộng lớn thênh thang, ko thể nghĩ bàn.

Với tâm từ, Ngài xoành xoạch mang thú vui tới với mọi người, bất kỳ lúc nào, ko phân biệt gì cả. Với tâm bi, Ngài xoành xoạch cứu giúp những người khổ đau, những người xấu số, thương người như thương chính mình. Với tâm hỷ, Ngài xoành xoạch vui vẻ, hoan hỷ với những việc lành, những hạnh phúc, những thành tựu của tất cả mọi người xung quanh, ko có tâm ghen ghét, đố kỵ, tị hiềm. Ngài xoành xoạch nhớ câu: “Nam mô nhứt thiết chúng sanh hỷ kiến bồ tát”. Tức là Ngài xoành xoạch noi gương những vị Bồ-tát nhưng tất cả mọi người đều hoan hỷ lúc họp mặt. Với tâm xả, Ngài ko bao giờ chất chứa trong lòng, trong kho tàng tiềm thức, bất kỳ điều phiền muộn nào, dù nhỏ tới đâu. Trái lại, Ngài xoành xoạch tha thứ cho bất kỳ người nào gây phiền muộn, rối rắm cho Ngài. Đức Di-lặc ko bị bất kỳ phiền não nào tác động, cho nên thân tướng mập mạp khỏe mạnh, tâm trí thanh thản, thư thả thơ thới, nét mặt lúc nào cũng hoan hỷ vui tươi. Nếu chúng ta muốn được an nhiên tự tại, muốn được hạnh phúc ngay hiện đời, chúng ta phải noi gương Ngài để tu bốn hạnh “từ, bi, hỷ, xả” vậy.

Nếu có tâm từ và tâm bi, chúng ta sẽ biết thương yêu và thông cảm với tất cả mọi người, dù kẻ đó đang gây phiền não cho mình, đồng thời chúng ta sẽ cắt bớt lòng tham và lòng sân. Tỉ dụ như chúng ta tương trợ bất kỳ người nào điều gì, hay chúng ta nuôi nấng con cái của mình, bởi do lòng từ bi, thì chúng ta sẽ ko cầu báo đáp, ko nhớ công lao, ko kể lể ơn nghĩa, với mọi người hay ngay cả với con cái trong gia đình. Do đó, người nào cũng hoan hỷ lúc họp mặt, ko người nào cảm thấy khó chịu, sau lúc thọ ơn của chúng ta.

Chúng ta thường có lòng từ bi với những loài vật nhỏ nhít như ruồi muỗi côn trùng, hay lớn hơn như gà vịt heo bò. Chúng ta ko nỡ giết thịt hại chúng, ko nỡ ăn thịt chúng. Nhưng đối với những con người sống xung quanh, như cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn hữu, đồng nghiệp, đồng hương, đồng đạo, đồng bào, đôi lúc chúng ta ko nhịn nổi một câu nói chạm tới tự ái hay một hành động xúc phạm tới danh dự của mình, dù vô tình hay cố ý! Lòng từ bi tương tự đó cần phải được xét lại! Cũng vậy, chúng ta thường có lòng từ bi với người chưa quen hay với người ở phương xa, lâu lâu gặp một lần. Nhưng chúng ta khó có lòng từ bi với những người ở gần xung quanh, lúc họ nói lời nào mích lòng mình, làm điều gì trái ý mình.

Lúc chúng ta thấy một người làm việc phước thiện, như cúng chùa hay tặng hội từ thiện một số tịnh tài chẳng hạn, nếu chúng ta phát tâm tùy hỷ, tức là vui theo với việc thiện người khác làm được, thì chúng ta cũng được phước báu như người đó. Vì sao vậy?

Xem thêm bài viết hay:  “Cày xuyên đêm” với top 10 phim bộ cực hay, khó có thể rời mắt

Bởi vì, trong kinh A Hàm, Đức Phật có dạy: “Lúc có người mồi ngọn đuốc được sáng rồi, nếu người khác tới mồi từ ngọn đuốc đó, thì ngọn đuốc sau cũng sáng tương tự, trong lúc ngọn đuốc trước ko giảm sáng chút nào”.

Cũng vậy, lúc có người phát tâm làm việc phước thiện, thì tâm từ bi của người đó tăng trưởng, tâm tham lam bỏn sẻn của họ cắt bớt. Họ được phước báu, cắt bớt phiền não, lần lần tâm tánh của họ được thanh tịnh, cuộc sống của họ được an lạc hơn, hạnh phúc hơn. Nếu chúng ta phát tâm tùy hỷ, một trong tứ vô lượng tâm, vui theo với việc thiện của người khác, thì chúng ta giảm được tâm đố kỵ, tị tị, tâm từ bi của chúng ta cũng tăng trưởng, và lúc đủ duyên, chúng ta cũng sẽ làm việc thiện đó vậy.

Còn đối với tâm xả, đó là chỗ hết sức cừ khôi của người tu hạnh giải thoát. Muốn được giải thoát, muốn được tự tại, nhẹ nhõm bước ra khỏi vòng trầm luân, sanh tử luân hồi, nhứt định chúng ta phải tu hạnh xả. Nếu lục căn của chúng ta xúc tiếp với lục trần, đừng dính đừng mắc, cái gì cũng xả, cái gì cũng bỏ qua hết, thì chúng ta ko còn gì để đem vào chứa trong kho tàng tiềm thức của chúng ta hết. Lúc đó, chúng ta sống trong tự tại nhẹ nhõm, thư thả thơ thới, ko lo lắng phiền muộn, ko ưu tư lo lắng, ko thấp thỏm phập phồng.

Do tâm từ bi, chúng ta làm được biết bao nhiêu việc phước thiện ko mỏi mệt, và do tâm hỷ xả chúng ta vui vẻ bỏ qua hết, quên hết tất cả những việc đã làm, quên hết tất cả những việc bất như ý. Trong tiềm thức của chúng ta ko có bốn tướng “ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả”. Tức là chúng ta ko thấy có mình là người làm phước, có kẻ khác là người nhận lãnh và ko nhớ, ko để tâm tới những việc tốt chúng ta đã làm, đã cho, đã tương trợ bao nhiêu người khác. Tương tự chúng ta sẽ ko cầu được báo đáp, ko kể lể, ko yêu cầu bất kỳ người nào nhớ ơn chúng ta, thì chúng ta ko có phiền não chút nào cả, nếu gặp phải những người ko biết chuyện ơn nghĩa. Sách có câu: “Thi ân bất cầu báo”, chính là nghĩa đó vậy.

Chúng ta sở dĩ bị sanh tử luân hồi nhiều đời nhiều kiếp, bởi vì chúng ta dính mắc quá nhiều. Chúng ta không những ko biết buông xả, trái lại, còn chứa nhóm quá nhiều thứ trong tàng thức, trong kho tàng tiềm thức của chúng ta. Hôm nay, nhân dịp năm cũ sắp hết, để sẵn sàng chào đón năm mới sắp sang, theo thông lệ, chúng ta thường lo sửa soạn trang trí nhà cửa, và đồng thời mở cửa nhà kho, quét dọn cho sạch sẽ, sắp xếp cho ngăn nắp. Cũng vậy, để có được một mùa “Xuân Di-lặc”, mang ý nghĩa “Xuân Hoan Hỷ”, “Xuân Hy Vọng”, hay “Xuân Hạnh Phúc”, chúng ta ko thể quên việc chăm sóc, quét dọn, tu bổ cho thực sạch cái “kho tàng tiềm thức” của chúng ta.

Lục căn của chúng ta cũng như các bộ phận của cái máy quay phim, hằng ngày thu nhận ko biết bao nhiêu là hình sắc, âm thinh, rồi đem chứa vào trong kho tàng tiềm thức. Thỉnh thoảng hay lâu lâu, thậm chí tới mấy chục năm sau, tới lúc tuổi già, mang ra chiếu lại, để cười chơi hoặc để tức giận, như thể chuyện mới xảy ra ngày hôm qua còn sốt dẻo vậy. Mặc dù những diễn viên trong đó đã đi vào quá khứ từ lâu! Họ đã quên hết mọi chuyện, chỉ có chúng ta là còn nhớ quá kỹ, để lãnh đủ phiền não khổ đau. Nếu buông xả được, xóa được những cuốn băng trong kho tàng tiềm thức, chúng ta sẽ trở thành con người vui tươi thư thái, lúc nào cũng hoan hỷ vui vẻ như đức Di-lặc vậy, nhứt thiết chúng sanh sẽ hoan hỷ kiến, ko nghi.

Lúc Đức Phật còn tại thế, có một người mang hai chậu bông tới cúng dường, với tâm mong cầu pháp môn tu giải thoát. Lúc họp mặt, Đức Phật bảo buông, ông ta bèn buông tay trái, chậu bông rơi xuống đất. Đức Phật lại bảo buông, ông ta bèn buông tay phải, chậu bông thứ hai rơi xuống đất. Đức Phật lại bảo buông, ông ta bèn thưa: Bạch đức Thế Tôn, hai tay con đã buông hết rồi, đâu còn gì để buông nữa? Đức Phật dạy: “Như Lai bảo ông buông lần thứ nhứt là bảo ông buông sáu căn, lần thứ hai là bảo ông buông sáu trần, lần thứ ba là bảo ông buông sáu thức. Lúc căn, trần, thức ko còn nhiễm trước, tức thập bát giới ko thành lập, thì ông được giải thoát”. Lục căn, lục trần và lục thức nói chung là thập bát giới. Thập bát giới ko thành lập có tức là: lục căn xúc tiếp với lục trần ko sinh ra lục thức! Thực là đơn giản!

4. Phân biệt phật di lac và thần tài

Hiện nay, trong tất cả các ngôi chùa đều có thờ Phật Di Lặc với tạo hình là vị sư có dáng người mập mạp, bụng to tròn, cổ đeo chuỗi tràng hạt, nét mặt tươi cười, tai to, thân khoác thiên y, tay phải cầm cành hoa sen, tay trái cầm nhành hoa vô ưu, ngồi kiết già trên tòa đài sen.Cũng vì vị Phật này tướng phúc hậu, nét mặt tốt lành nên nhiều nơi coi là một vị Thần Tài, thờ phụng tại gia hoặc đặt tượng ở nhà với mong muốn làm ăn phát đạt, thịnh vượng và mọi chuyện khô hanh thông như ý. 

Tuy nhiên, cần phải nhớ Phật Di Lặc là một vị Phật chứ ko phải Thần Tài, nhưng trước Phật thì ko thể cầu xin tiền tài danh vọng hay những thứ vật chất khác. Hơn thế nữa, Thần Tài có thể cúng cỗ mặn còn Phật thì lại tuyệt đối cấm kị. Nên nắm rõ điều này để thờ phụng đúng chuẩn. 

Có xả bỏ những ưu tư nội kết trong tâm, thì con người mới thật sự có an vui hạnh phúc. Ðó mới thật là thứ hạnh phúc sống động. Cho nên, lúc tưởng vọng lễ bái Ngài đầu năm, người Phật tử ước vọng tương lai đời mình sẽ được thành Phật như Ngài. Ðồng thời, cũng quyết tâm thật hành theo hạnh hỷ xả của Ngài. Có thế, thì trọn năm người Phật tử mới được nhiều lợi lạc vui tươi hạnh phúc. Bằng trái lại, thì sẽ chuốc lấy nhiều khổ đau. Ðó là ý nghĩa và cũng là lý do chủ yếu nhưng người Phật tử tưởng vọng lễ vía Ngài đầu năm vậy.

Kính chúc Phật tử trọn hưởng một mùa xuân Di Lặc và xoành xoạch an vui hạnh phúc bằng một nụ cười hỷ xả trên môi.

[rule_{ruleNumber}]

#Tìm #hiểu #về #Phật #Lặc #Tại #sao #phải #lấy #ngày #mùng #một #Tết #làm #ngày #vía #Phật #Lặc #Và #nghĩa

Bạn thấy bài viết Tìm hiểu về Phật Di Lặc, Tại sao phải lấy ngày mùng một Tết làm ngày vía Phật Di Lặc? Và ý nghĩa có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Tìm hiểu về Phật Di Lặc, Tại sao phải lấy ngày mùng một Tết làm ngày vía Phật Di Lặc? Và ý nghĩa bên dưới để Trường THCS – THPT Âu Lạc có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: aulacschool.vn của Trường THCS – THPT Âu Lạc

Nhớ để nguồn: Tìm hiểu về Phật Di Lặc, Tại sao phải lấy ngày mùng một Tết làm ngày vía Phật Di Lặc? Và ý nghĩa

Viết một bình luận